THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 37
Số lượt truy cập: 3351881
QUANG CÁO
SỬ DỤNG SƠ ĐỒ TƯ DUY TRONG DẠY HỌC KÍCH THÍCH HỌC SINH YÊU VÀ THÍCH HỌC MÔN NGỮ VĂN 5/23/2017 7:45:42 AM
I. PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài

 

Trong quá trình giảng dạy tôi nhận ra có một số vấn đề khó khăn với học sinh của mình trong khâu trình bày bài học, ghi chép vào vở. Đặc biệt với những học sinh yếu kém, khả năng tư duy còn hạn chế. Tôi hiểu rõ rằng, nếu không có một sự ghi chép thông minh, hợp lí thì thật khó cho các em trong quá trình hiểu bài, ghi nhớ và vận dụng bài học.

Bởi vậy đổi mới phương pháp dạy và học, có một cách giảng dạy, ghi chép mới thực rất quan trọng. Đặt trong hoàn cảnh thời kì hội nhập đất nước, nền giáo dục có nhiều cải cách, thay đổi thì đổi mới giáo dục càng trở nên thiết yếu hơn. Vấn đề này đã được Đảng và nhà nước khẳng định là vai trò quan trọng cấp thiết trong hệ thống “Đổi mới sự nghiệp GD”, là nền tảng, là động lực thúc đẩy công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước để Việt Nam từng bước vững vàng khi hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

      Để thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, trong đó đổi mới dạy học văn là một yêu cầu quan trọng trong nhà trường THCS. Bởi môn Ngữ Văn có một vị trí quan trọng đặc biệt trong chương trình của cấp học THCS. Bằng những hình tượng và ngôn từ phong phú sinh động của mình, nó cung cấp cho người đọc những kiến thức về cuộc sống cũng như những điều bí ẩn trong tâm hồn con người, khơi gợi lên một thế giới kỳ ảo, huyền diệu và lung linh sắc màu bởi vẻ đẹp nhân văn trong mỗi sự vật, hiện tượng trong tác phẩm. Ngoài việc cung cấp kiến thức như các môn học khác, môn Ngữ Văn còn góp phần to lớn trong việc bồi dưỡng tư tưởng tình cảm cho các em học sinh: biết yêu thương, quý trọng gia đình, thầy cô, bạn bè, có lòng yêu nước, biết hướng tới những tư tưởng cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái ác, cái xấu, bước đầu các em có năng lực cảm thụ các tác phẩm có giá trị nhân văn cao cả. Hơn nữa, tuổi trẻ là lứa tuổi giàu cảm xúc, dễ rung động trước cái đẹp nếu được thầy cô dẫn dắt, hướng dẫn thì sự yêu thích cái  CHÂN – THIỆN – MỸ -  Những giá trị mà văn học đang hàm chứa -  nhất định sẽ tăng lên, giúp các em học tốt hơn.

        Tuy nhiên học Văn là cả một quá trình tích luỹ lâu dài, không thể học một cách dồn  ép mà phải cập nhật  dần dần từng ngày, từng vấn đề, từng tác phẩm. Để từ đó các em cảm nhận và hiểu tác phẩm một cách sâu hơn.

Nhưng đối với một số các em học sinh học văn nghĩa là phải đối mặt với một số vấn đề khó khăn khác như:

         + Phải ghi nhớ một lượng lớn nhiều câu từ văn học một cách nhàm chán do thói quen đọc – chép – trả bài

         + Cảm thấy buồn ngủ khi phải học và ôn tập những tác phẩm lạ khó học hay không hứng thú

         + Lo lắng khi thời gian ôn tập không còn nhiều mà học vẫn không vào

         + Hay mất điểm vì những lỗi không đáng có như thiếu ý, các ý lộn xộn lan man, viết dài nhưng không rõ ý…

          + Bế tắc vì môn Văn không phải sở trường cũng như hoang mang vì thiếu phương pháp học văn hiệu quả

          Và còn rất nhiều vấn đề khác mà các em chưa nhận ra

   Vậy làm thế nào để các em vừa nắm vững kiến thức, một cách toàn diện và sâu sắc, vừa khơi gợi được sự hứng thú, tính sáng tạo và tư duy logic trong học văn?
      
Đây là vấn đề  đã được nhiều nhà nghiên cứu, nhiều giáo viên đã thực hiện song đó cũng là các vấn đề  có tính chất chung cho việc dạy học môn Ngữ Văn. Qua kinh nghiệm của bản thân trong quá trình dạy học, qua việc tìm hiểu thực tế ở dạy – học môn Ngữ Văn, tôi luôn trăn trở làm thế nào để học sinh yêu và thích học môn văn. Đó là lý do tôi chọn đề tài “ Sử dụng sơ đồ tư duy, kích thích học sinh yêu và thích học môn Ngữ văn”.

2. Phạm vi áp dụng đề tài

  1.2. Phạm vi áp dụng của đề tài:

  - Đề tài có thể áp dụng cho tất cả các giáo viên dạy môn Ngữ văn.

    Trong phạm vi của đề tài nghiên cứu này, tôi xin đưa ra phương pháp dạy và học môn ngữ văn một cách hiệu quả. Không những giúp giáo viên truyền tải kiến thức một cách có hệ thống, sinh động mà còn mang lại cho học sinh một niềm hứng thú mới đối với việc học văn.

II. NỘI DUNG

1. Thực trạng

     Việc dạy và học văn hiện nay ở trường  THCS  lại là vấn đề đáng suy nghĩ. Môn Ngữ văn không được đón nhận nồng nhiệt như các môn khoa học khác. Đa số học sinh cảm thấy việc học văn thật nhàm chán và mất thời gian. Họ không có hứng thú, không say mê. Đặc biệt các em cảm thấy lười nhác khi ghi chép bài giảng. Ghi chép theo kiểu truyền thống dần dần biến các em thành một cỗ máy. Chỉ đơn giản là tóm lược những kiến thức trong sách giáo khoa hay sao chép lại những gì cô thầy ghi ở bảng. Việc làm đó vô tình dẫn học sinh vào trạng thái thụ động, không giúp tiết kiệm thời gian, không làm các em ghi nhớ bài tốt hơn. Ngược lại nó đưa bộ não vào trạng thái mơ màng, không tận dụng được những khả năng cơ bản như: tập trung, suy nghĩ, tư duy và ghi nhớ.

     Vì thế đại đa số học sinh thờ ơ với môn văn, không hề mặn mà gì với những vấn đề đặt ra trong tác phẩm. Học sinh xem việc đọc tác phẩm là sự bắt buộc để  cô kiểm tra, lấy điểm. Số phận nhân vật, tiếng nói tâm tình của tác giả ít gây được sự đồng cảm với học sinh. Theo đặc thù bộ môn, theo xu thế của xã hội, môn Ngữ văn đang bị mất dần vị thế của nó. Học sinh ít mặn mà với bộ môn Văn và chỉ coi môn văn là môn học bắt buộc để thi vào lớp 10.

       Qua điều tra thực tế học sinh ở trường THCS cho thấy nhiều học sinh chưa thích học môn Ngữ văn thể hiện ở bảng số liệu sau:

Lớp

SLHS

HS thích học văn

HS  chưa  thích học văn

SL

%

SL

%

9A

 

 

 

 

 

9B

 

 

 

 

 

Tổng

 

 

 

 

 

 

         Từ những thực tế trên, tôi xin đưa ra giải pháp “Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy học kích thích học sinh yêu và thích học môn ngữ văn”

  2.Nguyên nhân

   a. Về phía giáo viên

- Trình độ giáo viên chưa đồng đều, nhiều giáo viên chưa có ý thức đầu tư, đổi mới phương pháp dạy học để phát huy năng lực tư duy sáng tạo của học sinh.

- Giáo viên còn nặng về phương pháp dạy học cũ, chỉ tập trung vào cách thức ghi chép truyền thống.

-  Lời bình của giáo viên còn khô khan chưa có sức lôi cuốn, kích thích học sinh.

- Cách thức trình bày bài giảng còn khô khan, thiếu sinh động, hấp dẫn, chưa lôi cuốn học sinh vào việc học văn.

  b. Về phía  gia đình - học sinh

- Do nề nếp, thói quen học tập cũ. Chưa có tính đổi mới, tư duy sáng tạo trong học văn. Còn thụ động trong việc học: cô giảng, trò chép.

- Do nhu cầu nhân lực của nền kinh tế - xã hội, do tâm lý của học sinh trong việc chọn ngành nghề cho mình có thu nhập cao, nên học sinh chọn học khối A, B. Cho nên số học sinh yêu thích môn Ngữ văn ngày càng thu hẹp dần. Khả năng cảm thụ tác phẩm văn chương và kỷ năng viết văn còn nhiều hạn chế. Nhiều em học văn nhưng lại lười đọc tác phẩm, thờ ơ với những vấn đề về  nhân vật và sự kiện trong tác phẩm. Một số em nhận thức còn yếu nên không theo kịp bài học cũng như phương pháp giảng dạy của giáo viên, nên nhiều khi phải đọc, ghi bảng mới chép bài.

- Ngay từ bậc Tiểu học, nhiều gia đình đã định hướng cho con em mình học Toán, Ngoại ngữ. Cha mẹ chỉ  chú tâm đến  kết quả học tập những môn khối A của con. Còn ít khi chú ý đến việc học các môn koa học xã hội của con mình.

 3. Giải pháp
      Từ thực tiễn giảng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh chúng tôi xin đưa ra
giải pháp: “Sử dụng sơ đồ tư duy kích thích học sinh yêu và thích học môn Ngữ văn”.

 a. Mục đích của việc sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học môn ngữ văn

   Phương pháp ghi chép kiểu truyền thống không hiệu quả như chúng ta thường nghĩ, nó tốn nhiều thời gian và không mang lại sự hứng thú cho học sinh. Bởi vậy việc sử dụng sơ đồ tư duy là một phương pháp mới, mang lại hiệu quả cao trong quá trình học tập.

- Sơ đồ tư duy giúp tiết kiệm thời gian vì nó chỉ tận dụng các từ khóa cùng những hình ảnh sáng tạo. Một khối lượng lớn kiến thức có thể ghi chú hết sức cô động trong một trang giấy, mà không bỏ sót bất kỳ một thông tin quan trọng nào.

- Sơ đồ tư duy mang lại hiệu quả cao trong quá trình ôn thi. Học sinh thay vì ôn lại toàn bộ bài học dài 20 trang chỉ cần ôn 5-6 trang sơ đồ tư duy. Theo phương pháp cũ các em mất một tiếng để ôn lại toàn bộ kiến thức mà vẫn có thể bỏ sót thông tin, trong khi đó sử dụng sơ đồ tư duy chỉ mất khoảng 30 phút đã có thể hệ thống bài học một cách hoàn chỉnh, liền mạch.

- Sơ đồ tư duy có rất nhiều hình ảnh để học sinh hình dung kiến thức cần nhớ. Đối với não bộ, sơ đồ tư duy giống như một bức tranh lớn đầy hình ảnh, màu sắc phong phú hơn là một bài học chỉ đầy chữ, khó ghi nhớ và nhàm chán.

- Sơ đồ tư duy hiển thị sự liên kết giữa các ý một cách rõ ràng.

- Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt, đơn điệu, sơ đồ tư duy cho phép học sinh làm nổi bật các ý trọng tâm bằng việc sử dụng những màu sắc, kích cỡ, hình ảnh đa dạng. Tạo ra một bức tranh mang lí luận, liên kết chặt chẽ những gì đã học.

b. Cách sử dụng sơ đồ tư duy

 * Cách vẽ sơ đồ tư duy

- Bước 1: Vẽ chủ đề ở trung tâm

       + Cần phải vẽ chủ đề ở trung tâm, để từ đó phát triển ra các ý khác.

       + Có thể sử dụng tự do những màu sắc ta thích

       + Không nên đóng khung hoặc che chắn mất hình vẽ chủ đề vì chủ đề cần được làm nổi bật, dễ nhớ.

- Bước 2: Vẽ tiêu đề phụ

       + Tiêu đề phụ nên được viết bằng CHỮ IN HOA nằm trên các nhánh

       + Nên được vẽ gắn liền với trung tâm

       + Tiêu đề phụ nên được vẽ theo hướng chéo góc (không vẽ nằm ngang), để nhiều nhánh phụ khác có thể vẽ tỏa ra một cách dễ dàng.

- Bước 3: trong từng tiêu đề phụ vẽ thêm các ý chính và các ý bổ trợ

        + Nên tận dụng các từ khóahình ảnh.

- Bước 4: Hãy để trí tượng tượng bay bổng bằng cách thêm nhiều hình ảnh giúp các ý quan trọng thêm nổi bật, cũng như giúp lưu vào trí nhớ tốt hơn.

Untitled.jpg

c. Ưu điểm của sơ đồ tư duy

-  Chỉ ghi chú các từ liên quan, tiết kiệm từ 50 – 95% thời gian.

- Chỉ đọc các từ liên quan, tiết kiệm hơn 90% thời gian.

- Thời gian ôn bài ghi chú dạng Sơ đồ tư duy tiết kiệm 90% thời gian.

- Tránh lãng phí thời gian dò tìm các Từ khóa trong một rừng chữ dông dài, tiết kiệm 90% thời gian.

- Tăng cường tập trung vào trọng tâm.

- Dễ dàng nhận biết các từ khóa thiết yếu.

- Cải thiện sức sáng tạo và trí nhớ, nhờ khả năng tập trung tức thời những từ khóa thiết yếu.

- Tạo mối liên kết mạch lạc tối ưu giữa các Từ khóa.

- Không như bản ghi chú tuần tự đơn điệu, tẻ nhạt, não dễ dàng tiếp thu và ghi nhớ những Sơ đồ tư duy kích thích thị giác, đa sắc và đa chiều hơn.

- Suốt quá trình thực hiện Sơ đồ tư duy, chúng ta luôn bắt gặp cơ hội khám phá tìm hiểu, tạo điều kiện cho dòng chảy tư duy liên tục bất tận.

- Lập Sơ đồ tư duy hòa điệu với bản năng khát khao tụ điền chỗ khuyết và tìm sự hoàn thiện của bộ não, nhờ đó khôi phục bản năng hiếu học.

- Nhờ liên tục vận dụng mọi kĩ năng của vỏ não mà não ngày càng linh hoạt, tiếp nhận hiệu quả, và tự tin vào khả năng của mình hơn.

d. Sử dụng bản đồ tư duy trong dạy văn

- Không phải bài nào, chương nào cũng sử dụng bản đồ tư duy cho hiệu quả cao. Cần sử dụng Bản đồ tư duy cho hợp lí và phù hợp với nội dung và hình thức bài học.

- Bản đồ tư duy nếu bị lạm dụng sẽ làm hạn chế kĩ năng viết bài luận của học sinh.

- Dùng BĐTD để dạy bài mới: Giáo viên đưa ra một từ khoá để nêu kiến thức của bài mới rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi, gợi ý cho các em để các em tìm ra các tự liên quan đến từ khoá đó và hoàn thiện BĐTD. Qua BĐTD đó HS sẽ nắm được kiến thức bài học một cách dễ dàng.

Ví dụ:

Khi học bài “ Truyện Kiều” của Nguyễn Du và bài thơ “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy( Môn Ngữ văn lớp 9), cuối giờ GV cho từ khoá “ Truyện Kiều ” và “ Ánh trăng” rồi yêu cầu học sinh vẽ BĐTD bằng cách đặt câu hỏi gợi ý cho các em, sau khi các nhóm HS vẽ xong, cho một số em lên trình bày trước lớp để các học sinh khác bổ sung ý. Giáo viên kết luận qua đó giúp các em tự chiếm lĩnh kiến thức một cách nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng rất hiệu quả, đồng thời kích thích hứng thú học tập của học sinh.


Ví dụ:  Sơ đồ minh họa cho bài “ Ánh trăng” của Nguyễn Duy

image006.gif

 

  - Dùng BĐTD để củng cố kiến thức: sau mỗi tiết học và hệ thống kiến thức sau mỗi chương, phần. Sau mỗi bài học, giáo viên hướng dẫn, gợi ý để học sinh tự hệ thống kiến thức trọng tâm, kiến thức cần nhớ của bài học bằng cách vẽ BĐTD. Mỗi bài học được vẽ kiến thức trên một trang giấy rời rồi kẹp lại thành tập. Việc làm này sẽ giúp các em dễ ôn tập, xem lại kiến thức khi cần một cách nhanh chóng, dễ dàng.

  Ví dụ: Khi dạy bài “ Tổng Kết ngữ pháp” cho học sinh vẽ BĐTD: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ, quan hệ tự, trợ từ, thán từ….học sinh có thể dễ dàng tổng hợp kiến thức về từ loại Tiếng Việt bằng  BĐTD. Sau khi có một học sinh hoặc một nhóm học sinh vẽ xong BĐTD sẽ cho một học sinh khác, nhóm khác nhận xét, bổ sung … Có thể cho học sinh vẽ thêm các đường, nhánh khác và ghi thêm các chú thích… rồi thảo luận chung trước lớp để hoàn thiện, nâng cao kĩ năng vẽ BĐTD cho các em.

image008.gif

- Sử dụng Bản đồ tư duy trong tiết trả bài tập làm văn: Trong tiết trả bài, giáo viên có thể sử dụng việc lập Bản đồ tư duy trong hoạt động lập dàn ý. Giáo viên yêu cầu học sinh lập sơ đồ tư duy ra giấy, một em học sinh lên bảng vẽ. Sau đó giáo viên chữa và hoàn chỉnh sơ đồ tư duy trên bảng.

e. Sử dụng bản đồ tư duy trong học văn

- Học sinh tự có thể sử dụng BĐTD để hỗ trợ việc tự học ở nhà: Tìm hiểu trước bài mới, củng cố, ôn tập kiến thức bằng cách vẽ BĐTD trên giấy, bìa… hoặc để tư duy một vấn đề mới. qua đó phát triển khả năng tư duy lôgic, củng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng ghi chép.

- Học sinh cũng có thể trực tiếp làm viêc với máy tính, sử dụng phần mềm Mindmap, phát triển khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng máy tính trong học tập.

4. Kết quả đạt được

   Sau một thời gian ứng dụng BĐTD trong đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn nói riêng ở trường THCS Mý Thủy đã bước đầu có những kết quả khả quan. Tỉ lệ học sinh yêu thích môn ngữ văn tăng lên rõ rệt, thể hiện qua bảng số liệu sau:

Lớp

SLHS

HS thích học văn

HS  chưa  thích học văn

SL

%

SL

%

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

III. KẾT LUẬN

     Là một giáo viên dạy văn, tôi luôn tâm huyết tìm ra những cách dạy và học mới, hiệu quả nhằm phục vụ cho sự nghiệp trồng người, với khao khát khơi nguồn hứng khởi, say mê của học sinh với môn học này. Đặc biệt trong thời đại ngày càng có nhiều thay đổi, kiến thức cũng trở nên phong phú, đa dạng hơn, bởi vậy để có thể ghi nhớ và vận dụng một cách hiệu quả thực rất quan trọng, cần thiết với mỗi học sinh. Bằng những kinh nghiệm và ý kiến cá nhân tôi xin đưa ra giải pháp của mình. Hi vọng bản đồ tư duy có thể được sử dụng một cách rộng rãi, hợp lí, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn ngữ văn, đem đến cho học sinh cách học, cách tư duy mới, tăng tính tích cực và sáng tạo trong các em.

     Trên đây là một số kinh nghiệm có thể áp dụng để nhằm nâng cao chất lương dạy học bộ môn. Tuy nhiên đó cũng chỉ là những ý kiến cá nhân. Trong thực tế còn có rất nhiều các kinh nghiệm từ các đồng nghiệp. Rất mong sự đóng góp của các thầy cô.

                                                                           - Trần Thị Lam Hồng -

 

 

Trần Thị Lam Hồng
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Trần Thị Diệu Liến 
Lê Chí Dũng 
ĐĂNG NHẬP

Tên đăng nhập
Mật khẩu
HÌNH ẢNH
LIÊN KẾT WEBSITE


BẢN QUYỀN THUỘC VỀ TRƯỜNG THCS MỸ THỦY
Địa chỉ: HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 052.3882977 * Email: thcsmythuy@lethuy.edu.vn