THỐNG KÊ TRUY CẬP
Số người đang online: 30
Số lượt truy cập: 3478157
QUANG CÁO
"Tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong dạy học môn Tiếng Anh" 5/23/2017 7:53:36 AM
I. PHẦN MỞ ĐẦU 1.1. Lý do chọn đề tài:

           Dạy và học Tiếng Anh đang được toàn xã hội quan tâm và đầu tư công sức để đào tạo thế hệ trẻ có trình độ ngoại ngữ cao đáp ứng được yêu cầu của khu vực và thế giới. Chúng ta biết rằng, 4 trụ cột giáo dục của tổ chức UNESCO là: học để biết (learning to know); học để làm việc (learning to do); học để chung sống (learning to live together) và học để lập thân (learning to be). Mục tiêu của Sách giáo khoa Tiếng Anh mới là nâng cao kiến thức ngôn ngữ, đồng thời phát triển các kỹ năng sống, kỹ năng học tập, tự chăm sóc bảo vệ bản thân, tư duy sáng tạo, giáo dục nhân bản (tôn trọng bản thân, trân trọng gia đình và các giá trị truyền thống).

Có thể nói kỹ năng sống chính là nhịp cầu giúp con người biến kiến thức thành thái độ, hành vi và thói quen tích cực, lành mạnh. Việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là rất cần thiết, giúp các em rèn luyện hành vi có trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em có khả năng ứng phó tích cực trước các tình huống của cuộc sống, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống tích cực, chủ động, an toàn, hài hoà và lành mạnh. Do đó việc dạy kiến thức đồng thời với giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là việc làm không thể thiếu đối với bất kỳ giáo viên nào kể cả giáo viên Tiếng Anh.

Vậy, làm thế nào để chúng ta giáo dục kỹ năng sống cho học sinh thông qua tiết dạy? Tôi nghĩ có nhiều phương pháp, nhiều cách thức để thực hiện việc này. Nhưng trong bài viết này, tôi xin đưa ra một số kinh nghiệm "Tích hợp giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong dạy học môn Tiếng Anh" để góp một phần nhỏ vào việc thực hiện nâng cao hiệu quả hoạt động giáo dục kỹ năng sống trong nhà trường góp phần vào thực hiện mục tiêu giáo dục con người phát triển toàn diện về Đức-Trí-Thể-Mỹ trên cơ sở tiếp thu được các kỹ năng sống đầy đủ.

          1.2. Phạm vi nghiên cứu

            a. Phạm vi áp dụng của đề tài

Đề tài áp dụng cho tất cả các giáo viên dạy Tiếng Anh THCS ở vùng nông thôn, đặc biệt là giáo viên dạy Sách giáo khoa Tiếng Anh mới.

          b. Thời gian nghiên cứu:

Kinh nghiệm của các năm học trước và năm học 2013-2014.

 

II. PHẦN NỘI DUNG

1. Thực trạng:

Qua nhiều năm giảng dạy và tìm hiểu qua các nguồn thông tin truyền thông, tôi biết được thực tế chung là:

Trẻ vị thành niên có xu hướng gia tăng về bạo lực học đường, về phạm tội, ứng phó không lành mạnh, mắc các tệ nạn xã hội, sống ích kỷ, vô tâm, khép mình,…. Vấn đề học sinh thiếu kỹ năng sống, thiếu tính tự tin, tự lập, sống ích kỷ, vô  tâm,  thiếu trách nhiệm với gia đình và bản thân đang là những cản trở lớn  cho sự phát triển của thanh thiếu niên trong một xã hội phát triển năng động như hiện nay. Nhiều vị phụ huynh lo lắng trước tình trạng con của mình thiếu tự tin, luôn tỏ  ra  rụt rè khi có cơ hội thể hiện mình trước đám đông hoặc  không  biết  cách xử lý tình huống dù là thật đơn giản như kêu gọi sự giúp đỡ  từ  người khác, tìm đường, định hướng, đi xe buýt,... Nhiều em học sinh có cuộc sống khép kín với thực tại, đắm chìm trong thế  giới  ảo của Internet, của thế giới game,... mà quên đi và đánh mất những  cơ hội kết  bạn , thể hiện những khả năng tiềm ẩn của mình, lo sợ,  rụt rè khi  tiếp xúc người lạ trong cộng đồng  xã hội.

*Thực tế ở trường tôi giảng dạy.

Đa số các em được đào tạo tốt về kiến thức, giáo dục tốt về đạo đức, tuy nhiên một số em chưa thực sự tự giác trong các hoạt động tập thể và hoạt động lao động, thậm chí việc trực nhật, làm vệ sinh trường lớp hằng ngày, một số em còn ỷ lại bạn, lười nhác vì sợ bẩn, sợ mệt, sợ mất thời gian; Mặt khác một số trong các em dường như thờ ơ, thiếu sự thông cảm với các hoàn cảnh khó khăn của bạn bè cũng như ngoài xã hội, đôi lúc còn trêu chọc, đùa giỡn trên sự thiếu may mắn của người khác. Các em thường chỉ quan tâm đến học kiến thức để đáp ứng tốt cho các cuộc thi, nên khả năng ứng phó với các tình huống trong cuộc sống có phần hạn chế, thường dễ bực bội, nóng nảy, gây mâu thuẩn với bạn bè; Việc giao tiếp với thầy cô, bạn bè khô cứng, cụt lủn, chỉ nêu thông tin không cần quan tâm dến câu chữ. Một số khác, đặc biệt là các học sinh yếu, mê muội các trò chơi vô bổ trên Internet, một số học sinh ở một số trường bỏ tiết học đi chơi games và nhiều em dành quá nhiều thời gian ngồi trước máy tính.

2. Nguyên nhân

a. Về sách giáo khoa mới:

- Sách giáo khoa ngày càng yêu cầu cao về kiến thức, kỹ năng để đáp ứng được xu thế của xã hội, nên khó học, đặc biệt là các học sinh ở vùng nông thôn, làm cho các em thiếu tự tin.

- Sách mới có các chủ điểm phù hợp, gần gũi với thực tế cuộc sống, song lại đòi hỏi tính chủ động sáng tạo các em khi thể hiện chính kiến của bản thân, cũng như thể hiện khả năng của mình thông qua hoạt động học tập.

b. Về giáo viên:

- Một số giáo viên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh mà chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức ở sách giáo khoa.

- Một số giáo viên khác quan tâm đến giáo dục kỹ năng sống cho các em nhưng lại chưa chịu khó tìm tòi các hình thức và phương pháp tổ chức cho các hoạt động  này nên hiệu quả giáo dục chưa cao.

c. Về học sinh:

- Mâu thuẫn giữa ý muốn thoát khỏi sự giám sát của bố mẹ, muốn khẳng định mình trong gia đình lẫn ngoài xã hội với ý thức “các em vẫn còn là trẻ con” trong suy nghĩ của các bậc cha mẹ, thầy cô đã nảy sinh những xung đột mà các em chưa được trang bị kỹ năng cần thiết để ứng phó và giải quyết.

- Các em luôn tự đề cao cái “Tôi” do các em thường được nuông chiều ở nhà, thường được bố mẹ làm thay việc để dành thời gian cho học hành. Do đó các em thường chưa biết cách nhường nhịn, chia sẻ; thiếu sự tự giác hoặc làm việc một cách thụ động.

d. Về phụ huynh:

- Nguyên nhân khiến đa phần học sinh khó tiếp cận được các hoạt động kỹ năng thực hành xã hội là do phụ huynh không cho phép. Đa số phụ huynh cho rằng con em mình chỉ cần ở nhà và đến trường, học giỏi kiến thức là được, cho hoạt động ngoài xã hội sợ các em dễ hư hỏng.

- Phụ huynh học sinh chỉ khuyến khích các con tìm kiến thức mà quên hướng cho con em mình làm tốt hoạt động đoàn thể, hoạt động xã hội và cách ứng xử trong gia đình.

    3. Các giải pháp

Trong thời gian dạy học, tôi thực sự trăn trở trước học sinh vô tâm, thiếu tự giác trong các phong trào chung, một số lại thiếu tự tin không dám bày tỏ ý kiến trước đám đông, thậm chí là không dám nói một câu tiếng anh nào vì sợ sai, sợ bạn cười. Là người trực tiếp đứng lớp, dù với môn học ngoại ngữ, tôi tự thấy mình phải có một phần trách nhiệm trong vấn đề giáo dục các em trở thành con người phát triển toàn diện. Chính vì thế tôi mạnh dạn đưa ra một số biện  pháp giáo dục để tạo cho các em có cách nhìn mới, có ý thức học tập nghiêm túc nhằm nâng cao chất lượng giáo dục.

Bước 1: Hiểu và nắm bắt được các kỹ năng sống mà các em cần.

     Kỹ năng sống là những kỹ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân vững vàng trước cuộc sống có nhiều thách thức nhưng cũng nhiều cơ hội trong thực tại… Kỹ năng sống đơn giản là tất cả điều cần thiết chúng ta phải biết để có được khả năng thích ứng với những thay đổi diễn ra hằng ngày trong cuộc sống. Giáo viên muốn giáo dục các em trước hết phải biết các em đang có gì, đang thiếu gì và đang cần gì. 10 kỹ năng sau đây chính là 10 kỹ năng cơ bản mà một học sinh THCS cần đạt đến.

1. Kỹ năng tự phục vụ bản thân

2- Kỹ năng xác lập mục tiêu cuộc đời

3- Kỹ năng quản lý thời gian hiệu quả

4- Kỹ năng điều chỉnh và quản lý cảm xúc

5- Kỹ năng tự nhận thức và đánh giá bản thân

6- Kỹ năng giao tiếp và ứng xử

7- Kỹ năng hợp tác và chia sẻ

8- Kỹ năng thể hiện tự tin trước đám đông

9- Kỹ năng đối diện và ứng phó khó khăn trong cuộc sống

 

10- Kỹ năng đánh giá người khác.

 

     Bước 2: Nắm rõ được các nguyên tắc giáo dục kỹ năng sống trước khi thực hiện:

Để giáo dục hiệu quả, giáo viên cần nắm rõ nắm rõ 5 nguyên tắc về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh. :

+ Nguyên tắc tương tác: các kĩ năng thương lượng, kĩ năng giải quyết vấn đề … được hình thành tốt trong quá trình HS tương tác với bạn bè và những người xung quanh. Tạo điều kiện để các em có dịp thể hiện ý kiến của mình và xem xét ý kiến của người khác... Do vậy họat động cặp, nhóm cũng như các trò chơi cần được giáo viên tổ chức đều đặn, thường xuyên trong mỗi tiết học.

+ Nguyên tắc trải nghiệm: Kỹ năng sống chỉ được hình thành khi người học trải nghiệm qua thực tế và nó có kĩ năng khi các em được làm việc đó. Giáo viên nên tạo nhiều cơ hội để các em thực hành trong thực tế cuộc sống.

+ Nguyên tắc tiến trình và nguyên tắc thay đổi hành vi: Giáo viên không thể giáo dục kỹ năng sống trong  một lần mà kỹ năng sống là một quá trình từ  nhận thức- hình thành thái độ- thay đổi hành vi. Thay đổi hành vi của một con người đặc biệt hành vi tốt là quá trình khó khăn. Do vậy giáo dục kỹ năng sống không thể là ngày một ngày hai mà phải là một quá trình và cần duy trì nó không thể là cú nhát, nửa vời được.

+ Nguyên tắc thời gian và môi trường giáo dục: Giáo dục giáo dục kỹ năng sống được thực hiện mọi lúc mọi nơi; giáo dục kỹ năng sống được giáo dục trong mọi môi trường như gia đình, nhà trường, xã hội; cần phải tạo điều kiện tối đa cho HS tham gia vào các tình huống thật trong cuốc sống.

Bước 3: Chuẩn bị và thực hiện.

Nắm được những kỹ năng cần thiết đối với một học sinh THCS, nắm được nguyên tắc giáo dục cơ bản, việc chuẩn bị và thực hiện cũng đòi hỏi sự nhiệt tình, tâm huyết của mỗi một giáo viên. Trong quá trình giảng dạy môn Tiếng Anh tôi rút ra được một số kinh nghiệm sau:

* Xác định rõ mục tiêu giáo dục kỹ năng sống trong từng tiết dạy

          -Trong quá trình soạn giáo án chuẩn bị cho tiết dạy cần xác định rõ các kĩ năng sống cơ bản được giáo dục trong bài là gì để từ đó định hướng bài giảng cho đúng.

Ví dụ 1.  Unit 3- (Community Service) – Lesson 1 (Getting Started) (Tiếng Anh 7), giáo viên cần xác định được các kĩ năng sống như kĩ năng nhận thức giá trị của lòng nhân ái, sự thông cảm, giúp đỡ, chia sẻ với cộng đồng; kĩ năng vận dụng sáng tạo và trình bày suy nghĩ, cách ứng xử đơn giản thể hiện tinh thần nhân ái, sống vì người khác theo đạo lý “Lá lành đùm lá rách”; từ đó học sinh có thể ứng dụng các kĩ năng đó vào thực tế đời sống.

Ví dụ 2.  Unit 7 – (Traffic) – Lesson 4- (Skill 1): giáo viên cần giáo dục cho học sinh các kĩ năng: tự nhận thức, tự bảo vệ mình, làm chủ bản thân, hiểu được luật lệ giao thông, biết cách thực hiện tốt an toàn giao thông và vân dụng vào cuộc sống hằng ngày.

*Thiết kế hoạt động cho giáo dục kỹ năng sống và tổ chức thực hiện.

Để hiệu quả giáo dục được cao, giáo viên không thể không soạn, chuẩn bị trước những hoạt động cho tiết học sắp đến. Việc thiết kế cũng phải tuân thủ theo nguyên tắc nhất định.

- Hoạt động phải phù hợp với nội dung và thời lượng của bài.

Ví dụ: Tiếng Anh 6. Unit 1- (My new school) - Lesson 4 - (Communication).

Mục tiêu của tiết dạy là củng cố, mở rộng vốn từ vựng liên quan đến chủ điểm và luyện kỹ năng giao tiếp cho các em. Tuy nhiên, kỹ năng giao tiếp vốn là kỹ năng khó đối với học sinh, nhất là học sinh trung bình và yếu, do đó chúng ta cần tinh tế nắm bắt được tâm lý này để thiết kế hoạt động sao cho học sinh cảm thấy nhẹ nhàng khi thực hiện, từ đó các em sẽ thấy tự tin, mạnh dạn đi đến bày tỏ quan điểm của mình:

Hoạt động 2. (15 phút cuối) 

ARE YOU A GOOD FRIEND IN CLASS?

Yes

No

  1. Do you remember all your new classmates’ names?

 

 

  1. Do you help your teacher in the class?

 

 

  1. Do you share things with your classmates?

 

 

  1. Do you keep quiet when your teacher is talking?

 

 

  1. Do you play with your classmates at break time?

 

 

  1. Do you help your classmates with their homework?

 

 

  1. Do you travel to school with your classmates?

 

 

  1. Do you listen when your classmates are talking?

 

 

 

GV thiết kế trò chơi “Friendship quiz”

- Đầu tiên chỉ yêu cầu các em đọc câu hỏi rồi đánh dấu vào ô Yes hoặc No về bản thân mình.

- Tiếp theo hướng dẫn các em đọc to câu hỏi để phỏng vấn bạn của mình, một học sinh chỉ cần hỏi một đến hai bạn. Học sinh được hỏi cũng chỉ cần trả lời Yes hoặc No. Người hỏi đánh dấu vào giấy của mình để ghi nhớ.

- Sau đó “người phỏng vấn” khẳng định trực tiếp với “người được phỏng vấn” rằng “You are friendly/ generous/ helpful/ cheerful..” or “You are/ not a good friend”

- Cuối cùng, một số em sẽ được bày tỏ ý kiến của mình về người bạn cùng lớp mà mình vừa phỏng vấn xong như: “Nam remembers all his classmates’ names, He shares things and help classmates with the homework... So he is helpful, he is a good friend”.

          Như vậy sau khi hoạt động, học sinh được luyện kỹ năng giao tiếp và ứng xử; Kỹ năng hợp tác và chia sẻ; Kỹ năng thể hiện tự tin trước đám đông; Kỹ năng đánh giá người khác.

- Giáo dục kỹ năng sống cần phải thực hiện đều đặn, thường xuyên.

Phải nói rằng, sách Tiếng Anh mới thiết kế dựa theo các chủ điểm thiết thực với cuộc sống xung quanh các em cũng như phù hợp với tâm lý lứa tuổi, tạo điều kiện tối đa để giáo viên giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trong từng tiết dạy. Do đó nếu giáo viên không khai thác hết ý đồ của người soạn sách thì quả là đáng tiếc.

Ví dụ: Tiếng Anh 7- Unit 3 (Community service)

Tiết 1: Giáo viên lồng ghép giáo dục cho các em tinh thần mình vì mọi người, vì cộng đồng nơi mình sinh sống

Tiết 2: Giáo dục các em kỹ năng nhận thức các vấn đề xung quanh như nạn tắc nghẽn giao thông, xã rác bừa bãi, hiệu ứng nhà kính… từ đó các em có kỹ năng đối mặt với thực tế và hành động như thế nào trước những thực trạng đó.

Tiết 3: Vận dụng ngữ pháp vào hoạt động cặp nhằm phát triển kỹ năng vận dụng, sự mạnh dạn, tự tin trước tập thể.

Tiết 4: Luyện kỹ năng giao tiếp, nhận thức được hoạt động nào có lợi cho cộng đồng và phát huy trong cuộc sống thường ngày.

Tiết 5: Giáo dục kỹ năng hợp tác và chia sẻ, bày tỏ ý kiến nên làm gì để góp phần giúp đỡ cộng đồng.

Tiết 6: Luyện kỹ năng viết về dự định sẽ làm gì để giúp đỡ cộng đồng, nêu cao tinh thần sống vì mị người.

Tiết 7: Cho các em tham gia vào một hoạt động tình nguyện trong Nhà trường hoặc cộng đồng để các em được trải nghiệm những hiểu biết của mình qua thực tế.

- Thay đổi hình thức hoạt động cho giáo dục kỹ năng sống.

Việc giáo dục hiệu quả hay không phụ thuộc hoạt động có hấp dẫn lôi cuốn học sinh hay không. Do đó việc thay đổi hình thức hoạt động để tránh sự nhàm chán, tẻ nhạt, tăng sức lôi cuốn là việc làm hết sức cần thiết. Đặc biệt là hoạt động cho phần Project sau mỗi đơn vị bài học. Phần “Dự án” này các em thường hoạt động theo nhóm và thực hiện ở nhà, các em có thể tự tìm hiểu, nghiên cứu, tham khảo qua sách báo, Internet cũng như sự giúp đỡ của anh chị em, bố mẹ. Từ đó các em tạo ra được sản phẩm và bài viết để giới thiệu về sản phẩm của mình. Sau đó nhóm cử đại diện thể hiện sản phẩm trước lớp, thi đua cùng với nhóm bạn. Giáo viên nhận xét, cho điểm…. Các hoạt động này giáo dục được kỹ năng hợp tác, chia sẻ; kỹ năng quản lý thời gian. Giáo dục các em ý thức thi đua tập thể, sự học hỏi, cố gắng nổ lực vươn lên.

Ví dụ 1: Tiếng Anh 6, Unit 1- Project - Vẽ tranh theo chủ đề: “My dream school”

 Mỗi nhóm sẽ tự do sáng tạo vẽ một bức tranh về ngôi trường mơ ước. Các em tự phân công nhau, mỗi người một việc, cùng nhau tạo ra một sản phẩm như ý, kèm theo một bài viết giới thiệu về ngôi trường mơ ước mà các em tưởng tượng ra. Hoạt động này thường thu hút sự đầu tư của các em vì đây là cơ hội để các em vừa được nói lên mơ ước của mình vừa được thể hiện khả năng hội họa của bản thân cũng như phát triển được kỹ năng viết Tiếng Anh.

Ví dụ 2: Tiếng Anh 6, Unit 2 - Project – Làm mô hình theo chủ đề: “My dream house”.

Giáo viên cũng hướng dẫn các em làm việc theo tổ nhóm ở nhà trong thời gian một tuần. Các em tự do tìm nguyên liệu như que diêm, que tính, giấy bìa, keo dán, bột màu…Các thành viên bàn bạc, thống nhất nguyên liệu, thời gian, địa điểm…và thực hiện. Những “kiến trúc sư nhỏ tuổi” sẽ hào hứng với công việc để tạo ra sản phẩm mà tưởng chừng như người lớn mới có thể làm được.

Ví dụ 3: Tiếng Anh 7, Unit 7 - Project – Cắt dán theo chủ đề: “Hobby Collage”.

Với yêu cầu của giáo viên, học sinh phải tạo ra được một bức tranh tùy thích bằng cách cắt những mảnh giấy màu, tranh ảnh trong sách, báo, … thậm chí là những mảnh vải màu sắc… để dán thành một bức tranh thể hiện sở thích chung của nhóm. Các em sẽ phải tìm, sưu tầm, chọn lựa rồi đi đến thống nhất.

Sau đây là một số sản phẩm sáng tạo của các em học sinh.

image002.jpg

                                  Sản phẩm cắt dán, chủ đề “Quê hương” của HS lớp 7a

                                                image004.jpg

             

image006.jpg

Sản phẩm tranh sáng tạo, chủ đề “ My dream house” của HS 7b


                   Sản phẩm mô hình, chủ đề “My house” của HS 7c

image008.jpg

       Sản phẩm cắt dán sáng tạo, chủ đề “Hobby collage” của HS lớp 7a

Bước 4: Rút kinh nghiệm và đánh giá kết quả.

Phải nói rằng, qua các hoạt động mà giáo viên đưa ra, các em thực sự thích thú bắt tay vào công việc, có lúc các em tranh luận “sôi nổi” đến nổi giáo viên phải đứng ra làm “trọng tài” để giải quyết. Có thế mới thấy được rằng công sức của giáo viên bỏ ra quả là không uổng phí. Tuy nhiên không phải lúc nào cũng có kết quả mỹ mãn, do đó cần phải rút kinh nghiệm để các hoạt động tiếp theo được tốt hơn, hiệu quả hơn. Khi rút kinh nghiệm và đánh giá kết quả chúng ta cần tập trung vào hình thức tổ chức hoạt động, nội dung hoạt động, quá trình tự quản, tự điều khiển của học sinh để bước chuẩn bị cho những hoạt động tiếp theo đạt yêu cầu và mục tiêu đề ra.

4. Kết quả.

       Từ các giải pháp trên, sau hai năm thực hiện tích hợp giáo dục kỹ năng sống qua môn học Tiếng Anh theo sách giáo khoa mới, tôi thấy rõ rằng các em đã có sự tiến bộ qua hành vi ứng xử hằng ngày và qua đánh giá hạnh kiểm của nhà trường cuối năm học 2013-2014.

          Rõ ràng những giải pháp mà tôi đưa ra đã làm thay đổi ý thức của các em. Các em không còn lo ngại mỗi khi có tiết học Tiếng Anh, thậm chí nhiều em lại mong chờ tiết học Tiếng Anh để các em được thể hiện mình. Nhiều em đã tự tin, cởi mở trước thầy cô, bạn bè, thể hiện ở chất lượng các cuộc thi năng khiếu, thi “Hùng biện Tiếng Anh” do Nhà trường và Ngành tổ chức. Học sinh ở trường tôi không có em nào bỏ tiết học đi chơi Game nữa, một số em còn chơi game nhưng các em khẳng định rằng các em chỉ chơi ngoài giờ với mục đích giải trí. Các em chăm lo học hành hơn, do đó chất lượng bộ môn ngày càng vững chắc. Đặc biệt phấn khởi là ý thức tự giác của các em nâng cao rõ rệt: các em không còn ngần ngại trong các hoạt động tập thể; tham gia vào các hoạt động từ thiện một cách vui vẽ, nhiệt tình...  vì các em hiểu được rằng “Mình vì mọi người, mọi người vì mình”.

                                             III. PHẦN KẾT LUẬN:

            1. Ý nghĩa của đề tài:

Đối mặt với thực trạng kỹ năng sống của học sinh bậc học THCS nói chung và ở đơn vị nơi tôi công tác nói riêng có chiều hướng giảm sút. Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy, tôi nhận thấy rằng, việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh là việc cần thiết và cấp bách để xây dựng hoàn thiện những giá trị cơ bản của con người Việt Nam thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển nền kinh tế tri thức.

Trong phạm vi nghiên cứu này, bản thân tôi cùng đội ngũ giáo viên trong toàn trường đã xác định đúng tầm quan trọng của công tác giáo dục kỹ năng sống cho học sinh để có kế hoạch hoàn chỉnh, có sự quan tâm đúng mực trong việc giáo dục học sinh, từ đó giúp cho tập thể sư phạm của trường thấy được nhiệm vụ quan trọng này để ngoài việc dạy chữ cho tốt còn phải lưu tâm, hết lòng giáo dục các em phát triển toàn diện cả kiến thức lẫn kỹ năng sống.

Tôi hy vọng đề tài này sẽ mang đến những giải pháp hữu ích, thiết thực cho giáo viên, phụ huynh và cả những ai quan tâm đến việc giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THCS. Qua đó, giúp các em có cách nhìn đúng đắn hơn, thân thiện hơn với những hiện tượng xung quanh, yêu bản thân hơn, yêu mọi người, yêu quê hương đất nước và giúp các em trang bị đầy đủ hành trang trước khi bước vào một môi trường mới phức tạp hơn, cao hơn, xa hơn!

Vì phạm vi nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở một môi trường nhất định nên tính khả thi của những giải pháp còn mang tính chủ quan. Kính mong đồng nghiệp, các cấp quản lí giáo dục, hội đồng khoa học xem xét, góp ý để cùng nhau hướng tới xây dựng phong trào giáo dục kỹ năng sống hiện nay, giúp chúng ta định hướng lại một số việc cần phải làm trong thời gian sắp tới, góp phần tích cực vào công tác giảng dạy, giáo dục cho học sinh.

Xin trân trọng biết ơn!

          2. Kiến nghị, đề xuất:

          Thứ nhất: Đối với phụ huynh học sinh, cần phải có phương pháp giáo dục con em mình sớm có tinh thần trách nhiệm với bản thân, với người thân và mọi người xung quanh.

Thứ hai: Đối với mỗi thầy cô cần nâng cao sự tận tâm vốn có của mình với học sinh, sử dụng kĩ thuật dạy học tích cực để tạo điều kiện, cơ hội cho học sinh được thực hành, trải nghiệm kĩ năng sống trong quá trình học tập. Với cách tiếp cận này, sẽ không làm nặng nề, quá tải thêm nội dung các môn học và hoạt động giá dục; mà ngược lại, còn làm cho giờ học môn Tiếng Anh càng trở nên nhẹ nhàng hơn, thiết thực và bổ ích hơn đối với học sinh.

Thứ ba: Đối với Nhà trường, cần đẩy mạnh và có hiệu quả phong trào: “ Xây dựng trường học thân thiện và học sinh tích cực”. Phải có sự phối hợp đồng bộ trong các tổ chức của nhà trường  trong  việc giảng dạy và giáo dục học sinh.

                                                                                - Nguyễn Lan Phương -

 

Lan Phương
HỖ TRỢ TRỰC TUYẾN
Trần Thị Diệu Liến 
Lê Chí Dũng 
ĐĂNG NHẬP

Tên đăng nhập
Mật khẩu
HÌNH ẢNH
LIÊN KẾT WEBSITE


BẢN QUYỀN THUỘC VỀ TRƯỜNG THCS MỸ THỦY
Địa chỉ: HUYỆN LỆ THỦY - TỈNH QUẢNG BÌNH
Điện thoại: 052.3882977 * Email: thcsmythuy@lethuy.edu.vn